VIỆT NAM THỜI TAM QUỐC (Kỳ 4) (Tác giả: Phach Ho Nguyen) Kỳ 4: ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI…

VIỆT NAM THỜI TAM QUỐC (Kỳ 4)

(Tác giả: Phach Ho Nguyen)

Xem thêm

Kỳ 4: ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI GIAO CHỈ GIAI ĐOẠN TAM QUỐC

1 – BA THẾ LỰC LỚN:

Giao Chỉ lúc này nằm dưới sự cai trị của nhà Đông Hán, hệ thống xã hội đương nhiên cũng tương tự, nhưng có một số khác biệt. Thay vì thế tộc/ danh sĩ/ hoạn quan, 3 thế lực lớn ở Giao Chỉ là thế tộc/ danh sĩ/ tù trưởng.

– Thế tộc: Các họ tộc ở Trung Quốc vì lý do gì đó mà chạy nạn sang định cư ở Giao Chỉ. Qua thời gian, họ biến thành một thế lực địa phương mạnh. Sĩ Nhiếp, Lý Bôn đều xuất thân từ nhóm này.

– Danh sĩ: Các danh sĩ vì một lý do nào đó mà chạy nạn sang Giao Chỉ. Chịu ảnh hưởng Nho giáo nặng nề, đây là nhóm người bất mãn sâu sắc nhất. Họ thường mạt sát, phỉ báng, không chịu hoà mình vào tập tục bản địa, là cái gai lớn nhất trong mắt người bản xứ. Đại diện tiêu biểu cho nhóm này là Lưu Hy, Tiết Tống.

– Tù trưởng: Những thủ lĩnh hoặc những cá nhân có tiếng nói trong cộng đồng người bản địa, còn sót lại sau hàng trăm năm đô hộ. Để tồn tại và thăng tiến, có lẽ họ cũng chấp nhận việc Hán hoá với mức độ tuỳ mỗi cá nhân. Họ thường xuất hiện rất mờ nhạt trong sử. Đại diện hiếm hoi được nêu tên là Lương Long, tù trưởng man Ô Hử.

2 – QUAN HỆ PHỨC TẠP CỦA HAI CHỦNG TỘC:

Đối với triều đình từ nhà Hán đến ít nhất là Đông Ngô, những nơi xa xôi như Giao Chỉ bị xem là đất man mọi, chỉ thích hợp để…lưu đày tội phạm (Cố Đàm, Cố Thượng, Trương Hưu, Ngu Phiên,…).

“ Từ ngày ấy (nhà Hán thôn tính Nam Việt) đến bây giờ, bên ta đều dời tội nhân người Trung Quốc đến ở lẫn với dân vùng ấy, dần dần khiến họ học chữ, biết sơ sơ ngôn ngữ, dịch sứ qua lại, thấy họ biết lễ nghĩa và giáo hoá.”
(Tiết Tống)

Chính sách này vô tình khiến một số lượng không nhỏ người Hán ở Giao Chỉ thực chất là những người bất mãn chế độ. Họ có thể vẫn coi thường và xung đột người bản xứ, nhưng hai bên lại có cùng kẻ thù chung là triều đình trung ương. Ta có thể hình dung sự xung đột Việt – Hán – triều đình thông qua một số thông tin từ sử sách cũng như lời tâu của Tiết Tống như sau:

– Trưởng lại ở quận Châu Nhai thấy tóc người ta đẹp, cắt tóc họ ( người bản xứ?) làm tóc giả. Họ nổi lên làm phản.

– Thái thú Đạm Manh mở tiệc mừng bố vợ Chu Kinh. Trong tiệc, Manh và Phan Hâm xô xát, đánh chết Hâm. Em Hâm là Phan Miêu liền thống lĩnh mọi người đánh phủ, bắn chết Manh. Sĩ Nhiếp kéo quân vào đàn áp cũng không nổi.

– Lương Long, một tù trưởng tộc man Ô Hử, có thể liên kết đến hai vị thái thú là Khổng Chi, Trần Thiều cùng nổi dậy đánh nhà Hán.

– Lương Long vừa bị giết, “đồn binh người trong châu (Thổ binh? Hán binh?)” lại nổi lên giết thứ sử Chu Ngung vì tội Ngung tham bạo.

– Thứ sử Chu Phù tham bạo, bị “giặc Di” giết chết. Mà theo Tiết Tống, thành phần “giặc Di” ấy là “trăm họ oán hận làm phản, sơn tặc cùng kéo ra, đánh châu phá quận.”. Nghĩa là Tiết Tống xác nhận có 1 lực lượng hỗn hợp đã nổi lên đánh Chu Phù.

– Hứa Tĩnh khi ở Giao Chỉ (khoảng 196-210), viết thư từ chối lệnh triệu gọi của Tào Tháo, ông lấy cớ rằng muốn về nhưng gặp dân Di – người bản xứ – nổi loạn, giết chóc dân Hán dữ dội, về không được:

“Gặp lúc người Di Việt các huyện ở quận Thương Ngô khởi loạn, châu phủ nghiêng lật, đường đất cách tuyệt. Nguyên Hiền bị hại, người già kẻ yếu đều bị giết.”

= > Những sự kiện này cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa người Hán và người bản xứ ở Giao Chỉ. Có lúc họ là kẻ thù, có lúc họ lại liên kết nhau để đánh một kẻ thù chung nào đó. Ngay trong nội bộ giới quan lại người Hán, tình trạng sát phạt nhau vẫn thường xảy ra, điển hình như cuộc chiến giữa Phan Miêu và Đạm Manh.

Cần nói thêm rằng, tình trạng kể trên không chỉ diễn ra ở Giao Chỉ, mà còn ở nhiều vùng khác phía Nam Trung Quốc, vốn là đất Bách Việt xưa:

– VD1: Đọc kỹ truyện các tướng ở phần Ngô thư và Thục thư sẽ thấy việc đánh dẹp người Di – dân bản xứ – diễn ra thường xuyên ở tất cả các châu Ích, Kinh, Dương, Duyện.

– VD2: Quân phiệt Nghiêm Bạch Hổ ở Dương châu, xuất thân sơn tặc, nhưng lại có được sự ủng hộ của cả giới quan lại người Hán – kể cả Vương Lãng, một danh Nho – lẫn cộng đồng Sơn Việt trong cuộc chiến chống lại Tôn Sách.

– VD3: Thành phần các lãnh tụ của cuộc nổi dậy Mạnh Hoạch 225 như sau:

+ Chu Bao: Thái thú Tang Ca, thấy Lưu Bị đại bại ở Hào Đình, bèn giữ châu quận làm phản. Sau hưởng ứng Ung Khải.

+ Ung Khải: Cường hào thế tộc ở Ích châu. Nổi dậy làm phản, bắt thái thú Trương Duệ đem nộp cho Đông Ngô. Sĩ Nhiếp truyện cho biết, chính Nhiếp là kẻ dụ dỗ Ung Khải bỏ Thục theo Ngô.

+ Cao Định: Vua người Di – dân bản địa.

= > Các trường hợp trên đều cho thấy:

– Khu vực nam sông Trường Giang vào thời đó vẫn còn là một vùng da báo. Người bản xứ và di dân Hán sống lẫn lộn và thường xung đột với nhau.

– Bên cạnh việc xung đột, hai sắc dân trên cũng hình thành những mối quan hệ phức tạp. Đôi khi, họ còn hỗ trợ nhau để chống lại một kẻ thù chung.

– Trường hợp cái tên Cao Định, cũng như Lương Long, cho thấy việc Hán hoá đã xảy ra trong cộng đồng người bản xứ.

——————————–

* PHỤ LỤC: Đặc điểm xã hội thời Đông Hán:

Bên cạnh hoàng tộc ( bao gồm cả ngoại thích), xã hội thời Đông Hán nói chung bị chi phối bởi 3 thế lực chính:

– Thế tộc: Các họ tộc có thế lực. Họ chia nhau cất nhắc con cháu nắm giữ các chức vụ trong triều đình.

– Danh sĩ: Có thể xuất thân từ thế tộc, có thể làm quan hoặc không. Họ là những trí thức có danh vọng, từng dạy dỗ nhiều môn đệ mà sau này sẽ trở thành quan lại trong triều. Vì thế, ngay cả khi không làm quan, họ vẫn là những người có tiếng nói lớn trong xã hội.

– Hoạn quan: Về lý thuyết, họ là tay sai của hoàng đế. Quyền lực của họ bắt buộc phải gắn liền với quyền lực của hoàng đế. Đây là một trong các lý do hoàng đế thường tin dùng hoạn quan để chống lại các mối đe doạ ( ngoại thích, thế tộc,…)

Vào thời Đông Hán, hệ thống thi cử chưa xuất hiện. Một người muốn thăng tiến trong sự nghiệp chính trị thì chỉ có thể thông qua tiến cử. Quyền này lại nằm trong tay 3 thế lực trên. Vì thế những người xuất thân bình dân thường rất khó trèo cao. Những danh sĩ, thế tộc hay tìm kiếm, cất nhắc người tài bất kể xuất thân thấp hèn như Cố Ung, Bộ Chất thường được mọi người tri ân, kính trọng.

Cuối đời Đông Hán, xuất hiện một con đường thăng tiến khác: buôn quan bán tước. Hán Linh Đế công khai định giá chức quan, những chức quan ở nơi xa xôi như Giao Chỉ thường có giá rất cao, vì người mua có thể tự do vơ vét. Tuy nhiên, con đường này vô cùng tốn kém. Người có đủ tiền của để theo đuổi, nếu không phải thuộc thế tộc, hoạn quan, thì cũng chỉ có thể là phú thương, địa chủ lớn mà thôi.

Về văn hoá, xã hội thời Đông Hán tuy tôn Nho giáo, nhưng vẫn còn rất mê tín, tin vào quỷ thần. Điều này khiến Đạo giáo cũng rất thịnh, với đủ thứ cúng bái, bùa phép phù thuỷ. 2 trường phái này xung đột với nhau, đỉnh điểm là cuộc nổi dậy Khăn Vàng bắt đầu thời Tam Quốc.

ẢNH: Nghiêm Bạch Hổ – thủ lĩnh sơn tặc, được cả người Sơn Việt lẫn quan lại nhà Hán như Vương Lãng ủng hộ. Một trong những kẻ thù của Tôn Sách khi bình định Giang Đông.




Source

Xem thêm

Viết một bình luận