TÌNH THẾ THỤC HÁN SAU NĂM 234 (Phần 8)…

TÌNH THẾ THỤC HÁN SAU NĂM 234 (Phần 8)

(Tác giả: Lương Hải Hà)

Xem thêm

(Xem các phần trước tại Album THỤC LUẬN https://www.facebook.com/pg/yeutamquoc/photos/?tab=album&album_id=1645610132118578 )

(Phần 3.2 sẽ phân tích chi tiết các chiến dịch quân sự của Khương Duy, phần 3.3 sẽ nói về việc bố trí lại phòng thủ Hán Trung. Còn về chiến dịch bảo vệ Thục Hán cuối cùng sẽ ở phần 4.)

3.2 CÁC CHIẾN DỊCH BẮC PHẠT CỦA KHƯƠNG DUY

Phần này sẽ chủ yếu sẽ sẽ dịch lại Wikipedia Tiếng Anh “Jiang Wei's Northern Expeditions” cộng thêm đối chiếu với Tam Quốc Chí và phần phân tích. Về cá nhân thấy bản wiki viết khá hay và tương đồng nhiều với Tam Quốc Chí nên quyết định sử dụng làm nòng cốt của phần này. Khương Duy truyện trong Tam Quốc Chí thì khá sơ sài, còn Tam Quốc Diễn Nghĩa thì sai lệch quá nhiều nhất là về quân số nên sẽ không được sử dụng.

Nhìn chung lối viết sử của phương Tây đề cập đầy đủ chi tiết hơn phương Đông trong đó quân số, địa hình, thậm chí là từng tác động nhỏ của 1 vài cá nhân nếu thay đổi cục diện lịch sử đều được đề cập cụ thể. Tuy nhiên do là tài liệu dịch là chủ yếu nên cách hành văn chắc chắn sẽ có nhiều khiếm khuyết mong người đọc thông cảm.

3.2.1 CÁC ĐƯỜNG HƯỚNG QUÂN SỰ VỚI THỤC HÁN

Là 1 nước nhỏ, muốn đánh bại được Ngụy thì Thục Hán cần phải chiếm được Lương Châu, Quan Trung qua đó củng cố thực lực bổ sung kỵ binh rồi mới có thể tính chuyện đánh tiếp Trung Nguyên. Khác với Hán Trung chỉ là 1 bồn địa loại vừa (diện tích khoảng 5000km2) nằm giữa Đại Ba Sơn và Tần Lĩnh, Lương Châu và Quan Trung là những vùng rộng lớn và địa hình không quá chia cắt (cũng gần giống như bồn địa Tứ Xuyên tuy xung quanh đồi núi nhưng bên trong thì tương đối bằng phẳng). Ở Hán Trung, Lưu Bị từng dùng chiến tranh tiêu hao để đánh lui Tào Tháo tuy nhiên cách đó không thể áp dụng cho Lương Châu và Quan Trung vì lúc này nước nhỏ yếu hơn lại phải chịu gánh nặng hậu cần lớn hơn.

Thục Hán có thể chiếm được Vũ Đô, Âm Bình vì 2 quận này khá biệt lập lại không có nhiều giá trị chiến lược (2 quận này 2 mặt giáp Thục Hán 1 mặt giáp đất của người Khương chỉ mặt Bắc nhìn về nội địa của Lương Châu). Với Thục Hán 2 quận này cũng không đem lại nhiều ích lợi vì không có có vùng bồn địa như Hán Trung để làm nơi hậu cần tốt lại cũng không đủ địa hình che trở với phía Ngụy vì vậy có 2 quận này chỉ mang tính biểu tượng.

Sách lược của Ngụy Diên đã được phân tích nhiều lần, thực tế là 1 kế hoạch vô vọng. Dù có chiếm được Trường An mà không thể chiếm Đồng Quan và đánh bại các lực lượng Ngụy ở phía Tây, quân Thục sẽ dễ dàng bị bao vây bởi hàng chục vạn quân Ngụy. Khác với Thục khi mất Thành Đô thì sau lưng không còn chỗ dựa nào cả, sau lưng Trường An là cả vùng Trung Nguyên tập trung sinh lực chính của Ngụy, do đó mất Trường An sẽ không thể lập tức khiến lòng quân Ngụy tan rã. Hơn nữa dù 6-10 vạn quân cũng không dễ gì chiếm 1 thành trì chiến lược như vậy.

Hướng phía Đông xuôi theo sông Hán như đã nói cũng giống như Vũ Đô, Âm Bình các quận Thượng Dung, Ngụy Hưng cũng nghèo nàn về kinh tế và ít giá trị chiến lược, tiếp tục xuôi về đông thì quãng đường vận lương càng xa, Tương Dương thì quá xa cách với nội địa Thục do đó may mắn chiếm được thì cũng ko giữ được chỉ có nước biếu cho Ngô.

Cuối cùng cách để Thục Hán thành công chỉ có 2 cách. Thứ nhất, nhanh chóng chiếm Lương Châu, chiếm giữ Nhai Đình; lúc này sẽ dựa vào vùng núi giữa Lương Châu và Quan Trung để phòng thủ. Đây chính là sách lược áp dụng gần đạt thành công ở lần 1. Tuy nhiên, sách lược này cũng không phải không có điểm yếu. Do thực lực kém hơn Ngụy, nếu như Mã Tốc có giữ được Nhai Đình thì 10 vạn quân Thục ở Lương Châu sẽ đối mặt với 20 vạn quân thậm chí nhiều hơn đến từ phía Ngụy, thắng bại lúc đó cũng rất khó đoán được. Có thể Thục Hán đại thắng giữ được Lương Châu (nhưng tổn thất cũng không nhẹ), hoặc là Thục Hán thua trận và mất nước từ 228 chứ không đợi đến 35 năm sau.

Còn sách lược thứ hai là cũng ra quân ở Lương Châu hoặc Quan Trung dụ chủ lực của Ngụy đến rồi đánh cho đại bại, kết hợp cũng Ngô ra quân mặt đông. Lúc này do thiếu lực lượng Ngụy buộc phải bỏ Lương Châu thậm chí cả Quan Trung. Tuy nhiên, Thục muốn đánh chưa chắc Ngụy đã muốn. Tiêu biểu là bắc phạt lần cuối của Gia Cát Lượng.

1 sách lược nữa đó là tấn công Lương Châu hoặc Quan Trung bao vây sử dụng làm mồi nhử rồi tiêu hao quân lực phe Ngụy. Tuy nhiên muốn sử dụng cách này thì ngoài hậu cần dồi dào quân Thục cần phải có lực lượng kỵ binh mạnh hơn đối phương (cách này được người Mông Cổ dùng để diệt nhà Kim) điều này thực tế lại là ngược lại.

Đến thời của Khương Duy bài toán khó giải này càng khó giải hơn. Chỉ với vài vạn quân đánh kiểu gì cũng giật gấu vá vai. Có lẽ Khương Duy trông cậy nhiều vào yếu tố dùng áp lực quân sự để kích động nội loạn trong nội bộ Ngụy.

3.2.2 BỐI CẢNH

Các cuộc Bắc phạt của Khương Duy đề cập đến một loạt mười chiến dịch quân sự do Thục Hán phát động chống lại nhà nước đối thủ của nó Tào Ngụy, trong khoảng từ 240 đến 262 CE trong thời kỳ Tam Quốc ở Trung Quốc.

Không giống như các cuộc Bắc phạt trước đây do Gia Cát Lượng lãnh đạo, đã lấy thêm Vũ Đô, Âm Bình vào các lãnh thổ của Thục Hán, các chiến dịch của Khương Duy cuối cùng không được ưa chuộng trong cả quân đội và dân sự ở Thục. Ngoài ra, không giống như các chiến dịch của Gia Cát Lượng thường có từ 60.000 đến đôi khi thậm chí 100.000 quân; đội quân Thục Hán của Khương Duy thường nhỏ hơn rất nhiều, hiếm khi vượt quá 30.000 ngay cả sau cái chết của Phí Y, Khi mà Khương Duy đã nắm quyền kiểm soát quân đội.

Các chiến dịch của Gia Cát Lượng đã phải chịu đựng các vấn đề hậu cần cho quân đội lớn của họ. Người kế vị của Gia Cát, Tưởng Uyển, tin rằng chính địa hình đồi núi của Hán Trung đã là lý do cho các chiến dịch thất bại và đã cố gắng chuyển lộ tuyến qua sông Hán. Phí Y, người kế nhiệm Tưởng Uyển, đã đồng ý và không bao giờ cho phép bất kỳ chiến dịch lớn nào được phát động. Tuy nhiên, Khương Duy đã bỏ qua những mối quan tâm này và sử dụng Hán Trung làm căn cứ của mình như Gia Cát Lượng đã làm.

Đoạn đầu này nói về bối cảnh các cuộc Bắc phạt của Khương Duy, đầu tiên dễ thấy rằng nguồn lực và sự ủng hộ cho Bắc phạt của Khương Duy ở mức thấp hơn nhiều so với Gia Cát Lượng kể cả về quân số cũng như hậu cần, lực lượng nhỏ chỉ khoảng 3 vạn của Khương Duy mà vẫn luôn gặp tình trạng thiếu lương thực. Chưa kể yếu tố chỉ huy cũng thua kém rất xa. Điều này dẫn tới trong các cuộc Bắc phạt của Khương Duy ngoài chuyện thiếu lương còn hay gặp tình trạng thiếu nhân lực để bố trí (các cánh tấn công hay phòng thủ phụ hay bại trận bởi thiếu quân số cũng như do chỉ huy không tốt). Khác với thời Gia Cát Lượng khi các cánh quân phụ do Ngụy Diên, Vương Bình, Ngô Ý, Triệu Vân, Đặng Chi chỉ huy đều có phần trên cơ quân Ngụy (trừ trường hợp Mã Tốc do bố trí thiếu kinh nghiệm và chủ quan).

Về đường hướng Bắc phạt thì khái niệm dùng Hán Trung làm căn cứ chính thực chất là mô tả việc các cuộc Bắc phạt sẽ hướng tới Lương Châu, Quan Trung thông qua hậu cần ở Hán Trung. Tuyến sông Hán thì thực chất cũng dùng Hán Trung làm hậu cần nhưng xuôi Hán Thủy nhắm về Ngụy Hưng, Thượng Dung, Tân Thành.

Về đường lối của Tưởng Uyển, ông định sử dụng Hán Thủy để tải lương nhằm giải chi phí hậu cần. Tuy nhiên do 3 quận phía đông thực chất đều kém giá trị do dân cư thưa thớt và địa hình cách trở, cộng với việc rút quân ngược dòng là khó khăn nên về cuối đời Tưởng Uyển đã quay lại nghiên cứu phương án cũ của Gia Cát Lượng. Phí Y thì như đã đề cập chọn cách bắc phạt hạn chế.

5 lần bắc phạt đầu của Khương Duy thực tế đều là các chiến dịch nhỏ.

3.2.3 LẦN 1 – NĂM 240

Năm 240, Khương Duy lãnh đạo lực lượng Thục tấn công Lũng Tây. Đáp lại, Quách Hoài đã lãnh đạo lực lượng của mình tấn công kẻ thù và đẩy chúng về phía lãnh thổ do các bộ lạc Khương kiểm soát. Khương Duy rút quân và trở về Thục. Trong khi đó, Quách Hoài đã tấn công các bộ lạc Khương và đánh bại họ. Ông cũng đã nhận được sự đầu hàng của hơn 3.000 người Đê, người mà ông đã chuyển đến vùng Quan Trung (trung tâm Thiểm Tây ngày nay).

Cuộc chiến lần 1 này không thấy ghi trong Khương Duy truyện nhưng được đề cập trong Quách Hoài truyện. Đây là thời Tưởng Uyển đang cầm quyền và vẫn đang cân nhắc sách lược Đông tiến. Có lẽ đây là hoạt động ra quân quy mô nhỏ mang tính thăm dò (có thể do người Khương đề nghị chứ không hẳn do Thục Hán chủ động). Bên Thục lúc này xét đến lực lượng quân đội huy động và vị trí tấn công thì khả năng cao chính là do Khương Duy chỉ huy.

3.2.4 LẦN 2 – NĂM 247, LẦN 3 – NĂM 248

Quách Hoài truyện viết:

[Năm 247 , người Khương ở Lũng Tây, Nam An, Kim Thành, Tây Bình là bọn Ngạ Hà, Thiêu Qua, Nga Già liên kết với nhau làm phản, vây đánh thành ấp, phía nam mời gọi quân Thục, thủ lĩnh người Hồ ở Lương Châu là Trị Vô Đái cùng ứng theo chúng. Thảo Thục Hộ quân Hạ Hầu Bá đem các quân đóng trại ở Vi Sí. Hoài đem quân vừa đến Địch Đạo, các tướng bàn rằng nên đánh chiếm Bào Hãn trước, trong dẹp người Khương ác, ngoài bẻ gãy mưu của giặc. Hoài tính Duy tất đến đánh Bá, bèn vào Phong Trung, về phía nam để đón Bá. Quả đúng Duy đánh Vi Sí, kịp lúc quân của Hoài vừa đến, Duy rút về. Đến đánh người Khương phản loạn, chém Ngạ Hà, Thiều Qua, hơn vạn nhà hàng phục.

Năm 248, bọn Già Tắc đóng quân ở thành cũ Hà Quan, Bạch Thổ, dựa vào sông để chống quan quân. Hoài vờ đến đầu nguồn, ngầm đem quân xuôi xuống chiếm thành Bạch Thổ, đánh, đại phá chúng. Trị Vô Đái vây Vũ Uy, để người nhà ở tại Tây Hải. Hoài đem quân hãm Tây Hải, muốn bắt lấy người nhà của hắn, vừa gặp Trị Vô Đái quay về, đánh với nhau ở phía bắc huyện Long Di, phá đuổi hắn. Sai đem hết giặc ác đến ở tại phía tây núi Thạch Đầu, đang trên đường đi thì dừng lại, ngăn chặn sứ giả của Nhà vua, Hoài quay về đánh, đại phá chúng.

Khương Duy ra Thạch Doanh, từ Cường Xuyên đi về phía tây đón Trị Vô Đái, để Âm Bình Thái thú Liêu Hóa đắp thành ở núi Thành Trùng, thu nạp quân Khương bị phá về giữ ở đấy. Hoài muốn chia quân đi đánh lấy. Các tướng cho rằng quân của Duy đến phía tây liên kết với người Hồ mạnh, mà quân của Hóa lại giữ chỗ hiểm, nếu chia quân giữ hai bên, thế quân sẽ bị yếu, đi không ngăn được Duy, lui không chống được Hóa, là kế sai vậy, không bằng hợp lại cùng đi về phía tây, nhân lúc người Hồ, Thục chưa liên kết, ngăn chặn trong ngoài của chúng, đấy là phá thế giao kết của giặc vậy. Hoài nói: “Nay đến đánh lấy quân của Hóa, ra chỗ giặc không ngờ, Duy tất ngoảnh lại cứu. Nếu Duy tự đến, đủ để dẹp được quân của Hóa, lại khiến cho Duy chạy đi vất vả. Như thế quân ta không cần phải đi xa về phía tây mà thế giao kết với người Hồ của giặc tự phá, là kế một lần đánh mà vẹn toàn hai việc”. Rồi sai riêng bọn Hạ Hầu Bá đuổi Duy ở Đạp Trung, Hoài tự đem các quân đến đánh bọn Hóa. Duy quả nhiên đi nhanh về cứu Hóa, đều như kế của Hoài. Tiến phong Đô Hương Hầu.]

=> Đây là giai đoạn Phí Y vẫn đang nắm quyền thường kiềm chế Duy. Hai lần ra quân này đều do người Khương Hồ làm loạn nên Phí Y mới điều quân phối hợp. Lần thứ 3 cho thấy sự thiếu thốn về nhân lực lẫn vật lực của Thục Hán khi nhánh phụ do Liêu Hóa quá yếu thế nên Duy buộc phải về cứu. Với lực lượng nhỏ (chưa tới 1 vạn quân) thì tác động của quân Thục rất hạn chế.

3.2.5 LẦN 4 – NĂM 249, LẦN 5 – NĂM 250

Năm 249, sau chính biến Cao Bình Lăng, Hạ Hầu Huyền người phụ trách phòng ngự phía Tây do thân Tào Sàng bị điều về Đông và được thay thế bởi Quách Hoài (trước đó Hoài là thứ sử Ung Châu còn Bá là cấp dưới của Huyền). Điều này cho thấy 3 lần đầu tiên Khương Duy bắc phạt ảnh hưởng nhỏ nên Huyền không cần đích thân ra quân mà vẫn cầm đại quân ở Trường An. Lo lắng cho an toàn của mình Hạ Hầu Bá đã bỏ trốn sang Thục. Mùa thu năm đó, Khương Duy lại ra quân, do nội bộ Ngụy có biến động rất lớn nên chắc chắn phía Thục Hán xem đây là 1 cơ hội Phí Y có lẽ cũng không thể kiềm chế chặt được.

Trần Thái truyện viết:

[Năm Gia Bình sơ, Thái được cử thay Quách Hoài làm Ung châu thứ sử, gia thêm Phấn uy tướng quân. Thục đại tướng quân Khương Duy xuất binh men lối Khúc sơn đắp hai toà thành, sai Nha môn tướng là Câu An, Lý Hâm cố thủ ở đó, lại hẹn rợ Khương Hồ ước thệ cùng vào cướp bóc các quận quanh đó.

Chinh tây tướng quân Quách Hoài cùng với Thái bàn kế chống giữ. Thái nói: “Khúc thành tuy vững chắc, nhưng đường từ Thục đến đó xa xôi hiểm trở, việc vận lương tất chậm trễ. Quân rợ Khương sợ Duy khó khăn việc lao dịch, ắt chưa dễ giúp đỡ hết lòng. Nay ta cần vây hãm quân ấy, có thể không cần phải hết sức phá thành; dẫu họ có quân cứu viện, nhưng đường núi hiểm trở, đâu dễ hành binh như trên đất bằng được”. Hoài bèn theo kế của Thái, sai Thái lĩnh binh vây đánh quân Thục. Hộ quân Từ Chất, Nam An thái thú Đặng Ngải cùng tiến binh vây hãm Khúc thành, cắt đứt đường lấy nước. Bọn Câu An phải ra đánh, Ngải không ứng chiến, quân Thục khốn quẫn, bốc tuyết nấu ăn cho qua ngày tháng chờ cứu viện.

Duy quả nhiên dẫn quân đến cứu giúp, tiến binh ra hướng Ngưu đầu sơn, cùng với Thái đối trận. Thái nói với chư tướng rằng: “Binh pháp quý ở chỗ không cần đánh mà khuất phục được được địch. Nay ta chẹn đường ở Ngưu đầu sơn, Duy không có đường tiến, sẽ bị ta cầm giữ ở đây.” Rồi lệnh cho các tướng cố sức giữ chắc thành luỹ không được giao chiến, lại phái sứ đến bẩm với Hoài, muốn từ phía Nam vượt qua Bạch Thuỷ, men sông tiến về hướng Đông, đề nghị Hoài đến thẳng Ngưu Đầu sơn, cắt đứt đường về của quân Thục, có thể bắt được Duy, như thế chẳng cần lo đến bọn Câu An nữa. Hoài khen kế ấy, dẫn ba quân đến Thao Thuỷ. Duy kinh hãi, phải bỏ chạy. Bọn Cẩu An cô thế, bèn ra hàng.]

=> Thục Hán vẫn tiếp tục gặp vấn đề về nhân sự cũng như hậu cần. Sự nổi dậy của người Khương tuy là sự hỗ trợ lớn cho Thục nhưng người Khương nhìn chung vì lợi ích bản thân không thực sự hỗ trợ Thục hết lòng. Một điểm cần lưu ý là lúc này Duy để vươn lên thành tướng lĩnh số 1 của Thục Hán nên được chỉ huy chiến dịch quan trọng. Nhưng về phía đối diện địch thủ của Duy là Quách Hoài, Trần Thái, Từ Chất, Đặng Ngải – đây là đội hình nhìn chung là tinh nhuệ nhất về mặt chỉ huy quân sự thời đó.

Đặng Ngải truyện chép:

[Duy lui binh, Hoài muốn theo hướng Tây đánh vào đất của rợ Khương. Ngải nói: “Giặc lui về chưa xa, sợ rằng sẽ quay trở lại, ta nên chia quân chống giữ đề phòng bị đánh bất ngờ”. Hoài bèn để Ngải đóng quân ở phía bắc Bạch thuỷ. Ba ngày sau, Duy sai Liêu Hoá tới đánh vào phía nam quân doanh của Ngải ở Bạch thuỷ. Ngải bảo với chư tướng rằng: “Binh sỹ của Duy nay mới quay lại, quân ta ít hơn địch, thế mà họ lại không vượt sông hoặc bắc cầu. Ấy là Duy sai Hoá cầm giữ ta ở đây, để ta không dám lui về. Duy ắt sẽ dẫn quân từ phía Đông lại để đánh úp lấy Thao Thành của ta vậy.” Thao Thành ở phía bờ Bắc sông, cách nơi Ngải đóng binh chừng 60 dặm. Ngay đêm ấy, Ngải ngầm thúc binh theo lối tắt đến đó, Duy quả nhiên vượt sông, còn Ngải đến được Thao Thành trước chống giữ ở đấy, nên mới giữ được].

=> Những người như Hoài, Ngải đều có thể đảm lược 1 phương còn về phía Duy thì ngoài Duy lúc này chẳng có ai

Năm 250, Khương Duy tấn công Tây Ninh (Tây Ninh thủ phủ tỉnh Thanh Hải ngày nay) và rút lui sau khi không chiếm được.

[Năm Diên Hi thứ mười, Duy được thăng làm Vệ tướng quân, cùng với Đại tướng quân Phí Vĩ quản việc Thượng thư. Năm ấy, người Khương-Di ở vùng Vấn Sơn nổi lên làm phản, Duy dẫn binh đến thảo phạt bình được. Lại tiến ra địa giới các xứ Lũng Tây-Nam An-Kim Thành, cùng với Nguỵ Đại tướng quân Quách Hoài-Hạ Hầu Bá đánh nhau ở Thao Tây. Vua rợ Hồ kính sợ đem cả bộ lạc đến hàng, Duy vỗ yên được xứ ấy. Năm Diên Hi thứ 12, Duy được ban Giả tiết, lại ra xứ Tây Bình, không được lợi phải trở về.

Bởi Duy ở phía Tây đã lâu nên am hiểu phong tục xứ ấy, lại có uy vũ, muốn dẫn dụ các tộc Khương-Hồ theo về, lại lấy quân ấy làm quân Vũ dực, bởi thế từ đất Lũng về phía Tây đều hướng về cả.]

Khương Duy truyện chép về giai đoạn 5 lần bắc phạt đầu của Duy khá mờ nhạt, 1 phần vì Thục không có của sử thực sự, 1 phần vì các chiến dịch này đều chủ yếu ở quy mô nhỏ do phối hợp với với Khương nổi loạn là chính. Lực lượng nhỏ lại thiếu các sĩ quan chỉ huy tốt, nên các chiến dịch này không gây tổn hại đáng kể cho cả 2 bên. Thật là không may cho Khương Duy đây là giai đoạn mà người Khương, Hồ, Đê nổi dậy chống Ngụy mạnh mẽ nhất, sau này khi Duy có thể huy động lực lượng tốt hơn thì các nhóm dân thiểu số này cơ bản đã bị dẹp yên và không hỗ trợ nhiều được cho ông

(còn tiếp)




Nguồn

Xem thêm các bài viết về Tam Quốc Diễn Nghĩa tại: https://em8.vn/binh-tam-quoc

Xem thêm

Viết một bình luận