KINH CHÂU: HÌNH THẮNG TRONG THIÊN HẠ (Phần 1)

TẬP KÍCH KINH CHÂU – HẠN GIANG TỰ BẢO

Sau khi đánh tan quân Thục Hán ở Kinh châu, Tôn Ngô đã kiểm soát hoàn toàn được khu vực chiếm đóng của Thục Hán trước đó, cộng thêm toàn bộ khu vực đã phân chia trước đó, từ thành Tương Dương trở về Nam. Một số người nói,hành động tập kích Kinh châu này của Tôn Quyền và Lã Mông là một hành động thiếu cái nhìn đại cục, nhưng có thực như vậy không?

Điều này phải xét tới nền tảng lập quốc của Tôn Ngô, Tôn Ngô địa bàn cơ bản ở các quận thuộc Dương châu phía Nam Trường Giang, đây là khu vực nhiều sông hồ, nên trình độ thủy chiến của họ rất cao, quân thần nhà Ngụy cũng phải công nhận rằng “Tuy dân đất Ngô yếu đuối nọa nhược, nhưng lại thiện thủy tính thuyền bé, nên lúc có cơ hội thì xuống thuyền đánh cướp, thấy không ổn thì rút về thuyền rồi giong buồm mà chạy”, do đó, chính sách phòng thủ cơ bản của họ như Sử đã chép có thể nói đó là “hạn giang tự bảo”, lấy ưu thế của Trường Giang để tiến hành phòng thủ.

Tuy nhiên, phải làm rõ ràng một điểm là, lấy giang tự bảo không có nghĩa là chỉ dựa vào ưu thế địa lí hiểm trở của Trường Giang để kẻ địch không thể vượt sông được, bởi vì Trường Giang vẫn có những chỗ độ khẩu để vượt qua như Hoàng Hà ở phía Bắc. Lấy Giang tự bảo có nghĩa là dùng ưu thế thủy quân của mình để khống chế lưu vực Trường Giang, khi đó, nếu kẻ địch không có một lực lượng thủy quân tương đối để đối kháng, thì sẽ rơi vào thế bị động trong bất kỳ hành động quân sự nào đối với Tôn Ngô. Ví dụ như khi Tào Phi phạt Ngô, tới Quảng Lăng nhưng vẫn không dám cử tướng vượt sông, vì lưu vực Trường Giang đã bị Tôn Ngô khống chế, nếu cử quân đội vượt sông, sẽ dẫn tới nguy cơ bị cắt đứt liên lạc, hậu cầu, tiếp viện với hậu phương, rơi vào cảnh “cô quân phấn chiến”.

Vậy tại sao Tôn Ngô lại đánh Kinh châu, như Lã Mông khi khuyên Tôn Quyền tập kích Kinh châu, có nói rằng “nó có lợi về mặt địa hình (hình thắng )”, vì sao Kinh châu có lợi về mặt địa hình? Như đã nói ở trên, để có thể nắm thế chủ động khi đối đầu với Tôn Ngô, thì phải có một lực lượng thủy quân tương đối. Do đó, những lộ tuyến có thể đưa thủy quân vào Trường Giang là một trong những hướng tấn công chủ yếu của Tào Ngụy đối với Tôn Ngô là những hệ thống thủy lộ có kết nối với Trường Giang, ví dụ như:

+ Tào Tháo “tứ việt Sào Hồ” là tấn công theo hướng sông Thi đến cửa Nhu Tu kết nối với Trường Giang,

+ Tào Phi công Ngô dùng con đường từ sông Hoài chuyển qua sông Trung Độc, tới Quảng Lăng đổ vào Trường Giang.

Ở Kinh châu thì có 2 lộ tuyến chính để đưa lực lượng thủy quân ra Trường Giang, một là xui dòng sông Hán, tới Miến khẩu tiến vào Trường Giang. Lộ tuyến tiếp theo là con đường Tào Tháo đã sử dụng khi thất bại ở Xích Bích, từ Giang Lăng xui dòng Trường Giang tiến tới trọng trấn quan trọng của Ngô là Hạ Khẩu,Võ Xương. Khoan bàn tới 2 con đường tiến công ở Kinh châu, đầu tiên xin bàn tới cửa Nhu Tu, theo hướng tấn công từ Thọ Xuân, Hợp Phì.

1 – LỘ TUYẾN NHU TU – HỢP PHÌ

Vào thời Hán, giao thông giữa Trung Nguyên và khu vực Đông Nam chủ yếu được kết nối nhờ vào hệ thống thủy lộ, thông qua sông Nhữ, Dĩnh, Tứ và các con kênh ở Hà Nam để tới được sông Hoài, từ sông Hoài xui dòng hoặc ngược dòng tới Thọ Xuân là điểm trung chuyển Nam Bắc, sau đó xui dòng sông Phì tới Hợp Phì, vào sông Thi xui xuống Sào Hồ, tới cửa sông Nhu Tu tiến vào Trường Giang, từ đây có thể xui dòng Trường Giang tới Ngưu Chử, Kiến Nghiệp và lưu vực Thái Hồ.

Lúc chưa có chiến tranh, 2 thành phố Hợp Phì, Thọ Xuân ở phía Bắc là trung tâm thương nghiệp rất phát đạt vì là giao lộ kết nối Bắc – Nam, cũng được xem là một đô hội trong thời Hán. Tào Tháo sử dụng con đường này để tấn công những chỗ yếu hại của Tôn Ngô, chẳng những tiện lợi vì toàn bộ đều được kết nối bởi đường thủy, nó còn giúp tiết kiệm được khá nhiều công sức vận chuyển vật tư hậu cần từ Ký châu, nếu so với đường bộ và sử dụng nhiều xe ngựa để vận chuyển. Do sự thuận tiện của con đường này, đây cũng là hướng tiến công chủ yếu của Tôn Ngô trong suốt thời kì của Tôn Quyền, Tôn Hạo để giành ưu thế ở khu vực Hoài Nam, lấy làm bàn đạp để đưa thủy sư lên miền Bắc, lợi dụng các hệ thống câu cừ sông ngòi kết nối với sông Hoài để tiến hành thủy chiến như đúng ưu thế của mình, đánh thắng thì đánh, không thắng thì té lên thuyền rồi giong buồm cao chạy xa bay.

Tuy nhiên, lộ tuyến này tuy có lợi về mặt hậu cần, vận chuyển và có thể đánh thẳng vào khu vực hiểm yếu của Tôn Ngô, nhưng nó vẫn không đạt được thành công, nhiều lần tấn công của Tào Tháo đều bị Tôn Quyền đánh lùi và không hề tiến được vào Trường Giang bằng con đường này. Đó là do, điều kiện địa lí và thủy văn của cửa Nhu Tu mang nhiều yếu tố hạn chế, khiến cho kế hoạch dùng con đường này để mưu đồ Trường Giang của Tôn Ngô bị khó thực hiện:

+ Thứ nhất, cửa Nhu Tu khá hẹp, không thể dùng thuyền có tải trọng lớn thông qua con đường này.

+ Thêm nữa, các chiến dịch của Tào Tháo do rút kinh nghiệm dính phải dịch bệnh ở Kinh châu, phải đốt thuyền và di chuyển đường bộ theo hướng Hoa Dung. Cho nên khi Nam chinh ở Hợp Phì và Nhu Tu, ông ta chỉ tấn công vào mùa Đông là mùa lượng nước xuống khá thấp, điều này cũng góp phần hạn chế kích thước chiến hạm của Tào Ngụy di chuyển theo con đường này.

Tào Tháo cũng có nhận thức tới hạn chế của con đường này, nên trong Võ đế ký có chép, ông ta tới Tiều chỉ tạo thuyền nhỏ huấn luyện thủy quân. Do đó, khi đối đầu với chiến thuyền có tải trọng lớn của phía Tôn Quyền đặt ở Nhu Tu, Tào Tháo chỉ dám co rút trong cửa sông về hướng Bắc, không dám tiến ra Trường Giang, cùng Tôn Quyền quyết chiến, sử chép là “Tôn Quyền khiêu chiến mấy lần, Tào công không dám xuất, nên Quyền phải ngồi thuyền nhỏ tiến vào cửa Nhu Tu, tấn công quân của Tào công”. Ghi chép này cũng gián tiếp chứng tỏ cửa Nhu Tu là một cửa sông nhỏ, thuyền lớn không vào được. Tôn Ngô lấy Trường Giang làm thiên hiểm, nếu Tào Tháo không cho thủy quân có trang bị thuyền lớn tiến vào Trường Giang được, sẽ khó có thể tranh phong cùng Tôn Quyền.

Thêm một điều nữa, địa lí khu vực cửa Nhu Tu tới bờ sông Trường Giang là khu vực đồi núi gập ghềnh, nên dù Tào Tháo tấn công cả bằng thủy quân và lục quân, nhưng do bất lợi về địa hình nên ông ta không thể triển khai ưu thế quân số ở khu vực này để áp đảo quân Tôn Ngô. Lợi dụng điều này, Tôn Quyền lợi dụng địa hình ở Nhu Tu để xây dựng hệ thống phòng ngự cho mình, ông ta nghe lời khuyên của Lã Mông, lợi dụng đây là một khu vực có diện tích mặt nước hẹp, xây oa bảo, thành lũy như thành Nhu Tu để tiến hành phòng thủ cả thủy lộ lẫn lục lộ. Tôn Quyền tự tin rằng thành quách của mình lâm giang dựa núi, lấy dật đãi lao, Quyền chủ Tháo khách, là cái thế bách thắng. Thái độ của ông ta cực kì tự tin vì nắm được ưu thế địa hình ở Nhu Tu này, khác xa so với thái độ hốt hoảng trước trận Xích Bích khi trước.

2 – LỘ TUYẾN QUẢNG LĂNG

2.1 – QUẢNG LĂNG – HÀN CÂU

Tiếp theo là bàn tới lộ tuyến Quảng Lăng, đây là con đường mà Tào Phi/ Tào Hưu đã lựa chọn khi tiến hành thảo phạt Tôn Ngô. Sử chép “Mùa Thu, tháng 7, Đế đông tuần, đến Hứa. Ngự long chu, thống lĩnh thủy quân, theo Sái, Dĩnh, xui sông Hoài, đến Thọ Xuân… Tháng 9, tới Quảng Lăng”.

Từ ghi chép trên có thể thấy, do lộ tuyến di chuyển của Tào Phi sẽ vẫn xuất phát từ Hứa Xương, có thể tới sông Hoài thông qua kênh Thảo Lỗ được đào ở Chiêu Lăng, nên Hồ Tam Tỉnh có chú rằng đây là kênh được Tào Phi đào dùng để phạt Ngô, là kênh đào kết nối với Lãng Đãng Cừ với sông Nhữ, sau đó tiến tới sông Hoài. Hoặc cũng có thể đi bằng đường cũ ra sông Hoài như Tào Tháo tiến hành phạt Ngô trước đó, thông qua Tiều huyện. Chỉ khác một điều, Tào Phi không sử dụng con đường Thọ Xuân – Hợp Phì cũ để phạt Ngô nữa, mà ông ta đã lựa chọn một con đường khác ở hướng Quảng Lăng.

Để đi đến Quảng Lăng, Tào Phi sẽ không chuyển hướng vào sông Phì ở Thọ Xuân, mà sẽ giong thuyền thuận dòng về phía Đông, gần tới cửa sông Hoài đổ ra biển, chuyển vào Trung Độc thủy để tiến tới Quảng Lăng, Hải Lăng. Trung Độc Thủy còn có gọi khác là Hàn Câu, đây là một con kênh được Ngô Vương Phù Sai đào từ Hàn thành ở Dương châu, kết nối với sông Hoài, và lợi dụng con đường này để tiến vào Trung Nguyên tranh bá với nước Tề.

Wiki có chép: “Tống sử – Hà cừ lục: “Thời Xuân Thu, Ngô đào kênh Hàn, Đông Bắc thông với hồ Xạ Dương, Tây Bắc tới Mạt khẩu. Đời Hán Ngô Vương Lưu Tỵ có đào thêm tới Hải Lăng””. Mạt khẩu là chỗ kết nối giữa sông Hoài với kênh Hàn, và nhờ Ngô Vương Tỵ có đào thêm, nên Tào Phi có thể lợi dụng con đường này trú binh ở Hải Lăng. Tới Giang Lăng, có thể Nam đánh Từ Lăng, hoặc ngược dòng Trường Giang tới Động Khẩu, Động Phố, là chỗ của một độ khẩu trọng yếu trên bờ Bắc Trường Giang, đó là độ khẩu Hoành Giang, thông qua độ khẩu này có thể tới được Ngưu Chử ở bờ bên kia.

Vậy tại sao Tào Phi lại lựa chọn con đường này? Nguyên nhân chủ yếu theo mình nghĩ, là những nguyên nhân sau:

a) Có thể là do chiến thắng của Trương Liêu và Tào Hưu khi phân binh ba đường phạt Ngô trước đó, đã giúp cho Tào Phi có tin tưởng để dốc toàn bộ binh lực tiến hành phạt Ngô thông qua con đường này. Dựa trên kết quả của ba lộ tuyến phạt Ngô trước đó, cánh quân của Tào Hưu ở Quảng Lăng là cánh quân nhìn chung có điều kiện hành quân khá thuận lợi, không bị trở ngại gì nhiều. Do Tôn Ngô không có các thành trì ở phía bắc Trường Giang khu Quảng Lăng, nên Tào Hưu và Trương Liêu không bị trở ngại gì mà có thể thuận lợi tiến nhập Trường Giang, ngược dòng tiến đánh Động Khẩu, nam kích Từ Lăng và đánh bại được địch quân.

Có thể sau khi Tôn Quyền tập kích Quan Vũ, dời đô tới Đông Quan, chủ lực của Ngô tập trung ở khu vực Trung Du sông Trường Giang, còn khu vực hạ lưu tuy có cho quân đội đóng giữ, nhưng số lượng không nhiều lắm. Như Lã Phạm là Kiến Uy Tướng quân, phụ trách phòng thủ khu vực Quảng Lăng, lĩnh chức Đan Dương Thái thú, quận trị ở Kiến Nghiệp. Nhưng khi hạm đội của ông ta bị gió lớn đánh chìm, thất bại trước Tào Hưu và Trương Liêu ở Động Khẩu, “thuyền người chìm mất, chết mất ngày nghìn”, nhưng số lượng mấy nghìn này lại được chép là “chết mất một nửa, tướng sĩ biến sắc”. Từ đó có thể thấy, khu vực hạ du Trường Giang này là điểm yếu trong hệ thống phòng ngự của Tôn Ngô, Tào Phi phát hiện được điều đó nên quyết định dốc toàn bộ binh lực tấn công, tự mình xuất chinh theo hướng Quảng Lăng này.

b) Kênh Hàn này có thể sử dụng để thông hành cho thuyền bè có tải trọng lớn. Như có nói ở trên, thủy lộ ở hướng Nhu Tu khá hẹp nên chỉ có thể thông hành được bằng thuyền nhỏ, Tôn Quyền lại ở núi đồi hai bên lập oa bảo, pháo đài, nên để tiến vào Trường Giang bằng con đường này là một chuyện rất khó khăn. Trong chiến dịch Quảng Lăng, rút kinh nghiệm trước đó Tào Hưu và Trương Liêu chỉ có thuyền nhỏ không dám ứng chiến với Hạ Tề, nên Tào Phi lần này xuất chinh mang theo số lượng thuyền khá lớn vài ngàn chiếc, lại có cả ngự thuyền “long chu”có tải trọng lớn của mình nữa. Nên kênh Hàn so sánh với Nhu Tu, có lợi thế ở mặt này hơn.

Tuy nhiên, chiến dịch Quảng Lăng của Tào Phi vẫn thất bại trước Tôn Ngô, thất bại này có nhiều yếu tố trong đó, như về mặt chính trị thì bị triều thần phản đối vì tốn người tốn sức, về mặt kinh tế thì là do phương Bắc chưa được phục hồi sau khi chiến tranh kéo dài, nhưng Trung Độc thủy vẫn có những yếu tố bất lợi của nó gây ảnh hưởng tới chiến dịch này.

2.2 – BẤT LỢI CỦA LỘ TUYẾN QUẢNG LĂNG

(a) Điều kiện thủy văn của kênh Hàn và sông Tứ, Hoài đều không quá ổn định, nó chịu hạn chế bởi các điều kiện như lượng mưa, thời tiết, nên lúc có thể thông qua được, lúc thì không thể thông qua được, nên Tưởng Tế có nói khu vực Quảng Lăng là khu vực “thủy đạo nan thông”. Năm Hoàng Sơ thứ 6 (225 ), quân Ngụy rút lui từ Quảng Lăng, bị mắc kẹt vì lượng nước xuống thấp ở Tinh Hồ, thuyền bè mấy ngàn chiếc bị mắc cạn. Làm cho Tào Phi gần như muốn bắt chước Tào Tháo, đốt hết thuyền bè, dùng đường bộ để rút quân về, may là sau nghe lời khuyên của Tưởng Tế mới thoát ra được.

(b) Khu vực Quảng Lăng là khu vực cửa sông Trường Giang đổ ra biển, nên ở đây có điều kiện thủy văn khá bất lợi, sóng gió rất mạnh, khoảng cách hai bờ sông rất xa, do đó Tào Phi khi duyệt binh ở Quảng Lăng, binh mấy mươi vạn, cờ xí che rợp mấy trăm dặm, nhưng thấy sóng gió ngập trời, phải ngậm ngùi mà than: “Ta có mấy vạn ky, nhưng dùng có được đâu. Than ôi! Đây là thứ trời đất dùng để phân chia Nam Bắc vậy”. Cửa biển ở đây lúc này rất rộng, không được phù sa bồi đắp nhỏ lại như ở các đời Đường Tống. Độc sử phương dư yếu ký có chép: “Từ Đường Tống tới bây giờ, diện tích bãi bồi ngày một tăng, diện tích mặt sông ngày một hẹp. Ban đầu từ Quảng Lăng vượt sông tới Dương Tử trấn, khoảng cách hai bờ là hơn 40 dặm, tới đời Đường vẫn còn khoảng 20 dặm, thời Tống còn khoảng 18 dặm, bây giờ chỉ còn khoảng 7,8 dặm”. Vậy có thể thấy từ bờ này sang bờ bên kia ở khu vực này vào đời Hán Ngụy cách nhau khoảng 20km.

(c) Tào Ngụy thường hay tấn công Tôn Ngô vào mùa đông để tránh ôn dịch, tuy nhiên, khu vực Quảng Lăng là khu vực gần biển, nên điều kiện thời tiết vào mùa đông của nó khá phức tạp, thường hay bị gió lốc hoặc sông bị đóng băng, gây điều kiện bất lợi cho việc vượt sông để tấn công bờ Nam. Như năm 225, Tào Phi bị do năm đó thời tiết đại hàn, mặt sông kết băng không tiến ra Trường Giang được, phải dẫn quân quay về. Lại hoặc như, Tào Phi năm 224 sử có chép bị gió lốc cuốn thuyền trôi sang tới hẳn bờ Nam, suýt bị quân Ngô bắt được. Ngay cả quân Ngô rành rẽ việc sông nước, khi di chuyển trong khu vực này cũng bị phức tạp bởi vấn đề gió lốc và điều kiện thời tiết thất thường, quân đội của Lã Phạm khi di đánh nhau với Tào Hưu ở khu vực này, cũng bị gió lốc cuốn trôi dạt vào bờ mắc kẹt, bị bắt giết mấy ngàn người.

(d) Để vượt sông tấn công vào lưu vực Thái Hồ, cần phải giải quyết vấn đề hậu cần, chưa nói tới thiên tiệm Trường Giang với những bất lợi như trên, kênh Hàn vẫn có những bất cập của nó. Từ năm 212, khu vực Hoài Nam là một khu vực không người do hai bên Tào và Ngô đánh nhau, họ di chuyển cư dân về phía hậu phương, thực hiện chính sách vườn không nhà trống để khiến cho quân địch không bổ sung được hậu cần ở khu vực này. Nên khu vực từ Hợp Phì trở xuống, sử chép chỉ có sót lại duy nhất một tòa thành là Hoán Thành còn sót lại, sử chép là “Dân chúng kinh hãi, từ Lô Giang, Cửu Giang, Kì Xuân, Quảng Lăng, hơn 10 vạn hộ đông độ xuống Giang Đông. Giang Tây bỏ trống, từ Nam hợp Phì chỉ còn lại Hoán Thành”, hay như “Đất ở Từ, Tứ, Giang, Hoài, không có dân chúng cư trú mấy trăm dặm”. Do đây là khu vực hoang tàn, không có dân cư, nên quân đội không có các nguồn bổ cấp hậu cần ở nơi đóng quân được. Việc vận lương do vậy là một vấn đề nghiêm trọng, tốn công sức khá nhiều, tuy có kênh Hàn vận chuyển từ phương Bắc, nhưng do mực nước không ổn định, sẽ tăng nguy cơ bị cắt hậu cần phía sau.

(e) Ngoài ra, như nói ở trên, để tấn công được bờ Nam, phải chiếm được ưu thế tuyệt đối áp đảo để đảm bảo hậu cần cho quân đội tác chiến, nếu không sẽ rơi vào tình trạng cô quân. Do không có ưu thế này, tướng lĩnh bên Ngụy khi thỉnh qua sông tác chiến, đều chỉ nói là sẽ tự hoạt động để bổ sung cấp dưỡng trong lòng địch. Tào Phi tập trung lực lượng thủy quân ở Quảng Lăng muốn hấp dẫn Tôn Quyền từ Võ Xương lên quyết chiến, như Tam Quốc Chí – Lưu Diệp truyện có chép: “Năm Hoàng Sơ thứ 5, hạnh Quảng Lăng Tứ Khẩu, sai quân ở Kinh, Dương cùng tiến. Hội quần thần hỏi rằng: “Quyền có tới không? Lưu Diệp đáp: “Quyền án binh chờ đợi xem xét tình thế, sẽ không tiến tới đâu”. Đúng như lời Lưu Diệp nói, Quyền không mắc mưu Phi, án binh bất động ở Vũ Xương, khiến Phi không thể dốc lực lượng của mình một lần tiêu diệt thủy quân của Tôn Ngô được, nên không dám qua sông tác chiến, phải rút về Bắc.

Do kênh Hàn, Quảng Lăng khá gần khu vực trung tâm của Ngô Hội xưa, nên có thể triều thần Tôn Ngô nắm khá rõ điều kiện địa lí ở đây. Do đó, họ cho rằng đây không phải là một vị trí hiểm yếu và đặt khá ít lực lượng ở khu vực này như đã nói ở trên.

3 – LỘ TUYẾN HÁN KHẨU (MIỆN KHẨU) – GIANG LĂNG

Hôm trước, đã bàn luận xong hai con đường tiến vào Trường Giang ở phía Đông là cửa Nhu Tu và quận Quảng Lăng. Tiếp theo sẽ thảo luận 2 thủy lộ khác ở vùng trung du Trường Giang. Đầu tiên, sẽ bàn tới con đường sử dụng sông Hán để tiến công, đây là con đường mà Tư Mã Ý đã khuyên Tào Phi sử dụng khi tiến hành phạt Ngô, một cánh quân đánh nghi binh ở phía Đông, khu vực Hoán Thành, phía Tây sẽ dùng chủ lực là thủy quân xui dòng sông Hán, tiến ra Trường Giang ở Miến Khẩu, tấn công Hạ Khẩu, uy hiếp trọng trấn của quân Ngô ở Vũ Xương.

Sông Hán, hay còn gọi là sông Miến, Cố Đình Lâm trong Thiên Hạ Quốc Quận Lợi Bệnh Thư có dẫn Từ Vấn Bách Xuyên Khảo, chép rằng sông Hán là một con sông bắt nguồn từ Thiểm Tây, Hán Trung, dưới núi Ba Trủng chảy về hướng Đông Nam tới khu vực Tương Phàn, tiếp tục chảy theo hướng Đông Nam, chảy qua phía tây Thạch Thành tiến vào đồng bằng Giang Hán, tới Cảnh Lăng hợp với sông Dương, tiếp nữa lại hợp với sông Hạ rồi đổ ra Trường Giang ở cửa Hạ Khẩu. Đây là con đường mà Tư Mã Ý đã nói tới khi bàn bạc chiến lược tấn công Tôn Ngô với Tào Phi, nhưng cuối cùng triều thần đều nói là không được, và quyết định vẫn tấn công Giang Lăng theo đường bộ ở chiến trường Kinh châu. Nguyên nhân quân thần của triều Ngụy không đồng ý tấn công theo con đường này, có thể là do điều kiện địa lí không thuận lợi của khu vực sông Hán.

Nếu như quân đội ngồi thuyền xui dòng sông Hán, tiến vào đồng bằng Giang Hán, khi qua khu vực Vân Đỗ, phía Đông Bắc thành Giang Lăng, đó là đã tiến vào khu vực hạ du của sông Hán, vì đây là khu vực bao trùm của đầm Vân Mộng, nên điều kiện thủy văn ở vùng này cực kì phức tạp, địa hình đa phần là đầm lầy, vắng bóng người cư trú. Hùng Hội Trinh khi tiến hành chú Thủy Kinh, có đánh giá khu vực hạ du sông Hán, và các chi lưu của nó ở khu vực này như sông Dương, sông Hạ đều đánh giá thủy văn ở khu vực “mùa hè thu thì nước trướng cao như hồ như biển, đông xuân thì lại cạn hết thành ruộng”, nên việc di chuyển bằng thuyền ở đây rất khó khăn, dễ mắc kẹt vì điều kiện địa lí phức tạp.

Thêm nữa, một nguyên nhân chính mà con đường này không thuận lợi để thủy quân tiến ra Trường Giang là do Miến Khẩu là một cửa sông khá hẹp bởi nằm sát Lỗ Sơn, không thuận lợi để thuyền lớn thông qua và dễ bị phong tỏa. Ví dụ như, khi tướng lĩnh thủy quân của Lưu Biểu là Hoàng Tổ đánh nhau với thủy quân của Tôn Ngô, Tổ chỉ cần chặn ngang hai chiếc thuyền lớn là đã đủ để ngăn cản thủy quân của Ngô tiến vào sông Hán. Tam Quốc Chí – Đổng Tập truyện có chép là: “Năm Kiến An 13, Quyền đánh Hoàng Tổ. Tổ chặn ngang hai chiếc thuyền lớn ở Miến Khẩu, lấy đá cột vào dây lớn làm neo, ngàn người đứng trên thuyền, lấy nõ bắn theo từng lượt, tên bay như mưa, quân (của Quyền )không tiến vào được”. Ngoài ra, địa hình ở khu vực này do là hồ đầm, giáp sông là núi cao, không có thành trì, cư dân sinh sống, nên nếu thủy quân gặp bất lợi sẽ khó nhận được tiếp viện.

Có lẽ chính vì những điều kiện bất lợi đó, mà Tào Phi đã không sử dụng kế sách của Tư Mã Ý để dùng thủy quân tấn công Hạ Khẩu theo hướng sông Hán. Ngay cả bản thân cha ông ta là Tào Tháo, khi chinh phạt Tôn Ngô theo hướng Kinh Châu, cũng từ bỏ việc xui dòng sông Hán từ phía Đông Bắc thành Giang Lăng thông qua sông Hạ do điều kiện thủy văn phức tạp của khu vực đầm Vân Mộng, mà Tào Tháo cũng đã lựa chọn tấn công bằng lộ thuyến Kinh Giang, theo hình như L ngược, đường xá xa xôi hơn.

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *