[ĐỐI LUẬN] LIỆU TÀO NGỤY CÓ PHẢI LÀ "THẾ LỰC CHỦ ĐẠO" CỦA TAM QUỐC? (K…

[ĐỐI LUẬN] LIỆU TÀO NGỤY CÓ PHẢI LÀ "THẾ LỰC CHỦ ĐẠO" CỦA TAM QUỐC? (K…

[ĐỐI LUẬN] LIỆU TÀO NGỤY CÓ PHẢI LÀ "THẾ LỰC CHỦ ĐẠO" CỦA TAM QUỐC? (Kỳ 2)

(Tác giả: Phạm Thành Long)

Xem thêm

Xin được giới thiệu hai bài phản biện – đối luận rất hay giữa hai tác giả Thiết LS và Phạm Thành Long về chủ đề: "Liệu Tào Ngụy có phải là thế lực chủ đạo thời Tam Quốc? Nói cách khác, liệu cái thế của Tào Ngụy có phải là "tất thắng" hay không?

Ở kỳ 1 (https://www.facebook.com/yeutamquoc/posts/3508295379183368 ), tác giả Thiết LS đã trình bày các lập luận nhằm ủng hộ quan điểm này.

Trong kỳ 2, tác giả Phạm Thành Long sẽ đưa ra các phản biện ở chiều ngược lại:

Bài viết của bác Thiết LS cơ bản dựa trên lập luận về ưu điểm trên các mặt: tố chất con người, thế mạnh hộ khẩu, kinh tế, kỵ binh, nhân tài, lòng dân và đại cục đã hình thành (có chỗ nào còn thiếu hay sai lệch thì bác phủ chính cho em, bác nhé!) để chứng minh thắng lợi tất yếu của miền bắc trong cuộc đấu giành thiên hạ với miền nam. Nói chung các lập luận của bác đều chính xác. Có điều vì chúng đúng một cách chung chung nên khi đặt vào hoàn cảnh ra đời của Long trung sách thì vẫn còn vài điều thiếu cụ tỷ dẫn đến nhiều tranh luận phân vân. Có lẽ vì thế mà bác tự khiêm gọi ý tưởng của mình là thiển kiến chăng?

Em hiểu biết về Tam Quốc chỉ ở mức da lông, đối với Long trung sách cũng không hoàn toàn tán thưởng, hôm nay hiếm được bữa nhàn, tranh thủ cào phím ngoài lề một đôi hàng, may ra ''tam thiển nhất thâm'', vạn nhất bổ sung thêm được vào văn bài của bác.

Đầu tiên, Long Trung sách xuất hiện vào lúc nào? Khi và chỉ khi biết tương đối chính xác thời điểm ra đời của nó, ta mới có thể nhận dạng tình hình bấy giờ để đưa ra các phân tích tiếp theo, phỏng ạ? Năm 227, mùa xuân, tháng ba, Lượng râu đưa quân ra đóng ở Hán Trung, TRƯỚC ĐÓ dâng biểu kể lể rằng: Dệt chiếu chẳng chê anh hèn nhát, ba lần đến quán rượu nhà anh, phỏng vấn chuyện thời sự, anh cảm kích tình nghĩa, bèn đi theo Dệt chiếu bán rong, đến nay đã trải HAI MƯƠI MỐT NĂM… Như vậy, Long trung sách được trình bày vào khoảng cuối 2005 đầu 2006… Ấy chết, em lầm, khoảng cuối 205 đầu 206.

Cuối 205 đầu 206, Tào Tháo có những gì? Anh ấy ĐÃ đập tan chủ lực nhà họ Viên, nhưng Hi, Thượng vẫn liên kết với Đạp Đốn người Ô Hoàn chống cự ở U châu, Cao Cán vẫn là Thứ sử Tinh châu, Lương châu bề ngoài quy phục triều đình song bản chất vẫn nằm ngoài tầm tay với. Các nguồn cung cấp ngựa và kỵ binh chủ yếu thời bấy giờ từ đông sang tây là U, Tinh, Lương thực tế CHƯA bị Tào Tháo khống chế.

Trong năm 206, Tào Tháo thu phục Tinh châu, tuy nhiên, Cao Cán chết trên đường rút chạy xuống Kinh châu. Nghĩa là, từ Hứa huyện sang Hàm Cốc, từ Tinh châu xuống Kinh châu vẫn là một khoảng trống quyền lực, quan lại ở đó nương tựa triều đình (triều đình chứ không phải Tào Tháo bác ạ) trên danh nghĩa nhưng hành xử ra sao thì còn phải xét, chứ nếu Tào Tháo đã chặt chẽ khống chế khu vực ấy thì tất nhiên Cao Cán không kéo tàn quân qua đó dâng đầu. Năm sau, Tào Tháo đập chết Đạp Đốn. Viễn chinh trở về, anh ấy khen thưởng tất cả những kẻ can gàn khuyên mình chớ đánh, vì chuyến đi nguy hiểm quá, cái này được chính sử ghi chép đàng hoàng. Còn Lương châu… Thôi! Em chả nói nữa cho rườm lời, đó là chuyện của tận dăm sáu năm sau, nói ra, anh Phỉ thả trâu, anh Chử lái đò lại hiện về trách cái tội kể tranh thời khắc huy hoàng của các anh ấy thì phiền quá. Tóm lại, ưu thế tuyệt đối về kỵ binh của lão Tào nằm ở thì tương lai và phải trải qua cửu tử nhất sinh mới có. Lúc ấy, kỵ binh của lão Tào là tàn quân Lương châu theo Trương Tú và tàn quân Tinh châu theo Lã Bố thu được cùng trong năm 199. Con BMW bằng sắt nên chạy chục năm không đâm chồ va quệt vẫn gọi là BMW được, chứ bảo mã bằng thịt cưỡi xông pha trận mạc bảy năm chỉ gọi là Xích Thố. Em mạnh dạn đề nghị bác thống nhất với em rằng ưu thế kỵ binh của lão Tào là có nhưng rất nhỏ.

Vòng vo nói chuyện kỵ binh cũng để vạch vẽ ra được phạm vi quản hạt của lão Tào khi đó: Đại để là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dự. Bác hoàn toàn chính xác khi nhận định đây vốn là khu vực cùng Lạc Dương – Trường An có mật độ dân số cao đồng thời kinh tế phát đạt hơn cả thời Hán. Em cố tình thêm vào quan điểm của bác hai chữ ''vốn là''. Hà dã? Từ khi loạn Hoàng cân bùng nổ thì hai điều ấy đã trôi vào quá vãng, Lạc Dương, Trường An cùng vùng Quan Đông chính là chiến trường chủ yếu giai đoạn tiền kỳ Tam Quốc. Thiên tử ở Trường An từng đi xin vài bộ xương bò, công khanh ở Lạc Dương từng đi hái rau dại, Trình Dục ở Duyện châu từng lấy thịt người làm quân lương. Cái thảm hại của khu vực này đều được ghi chép cả. Vua chúa còn thế nữa là bình dân, dù không có chiến loạn, bình dân cũng sẽ phiêu dạt đến chỗ khác kiếm ăn, huồng hồ chinh chiến liên miên, đặc biệt lão Tào vào Từ châu, thắng Quan Độ, chỗ nào cũng chém giết hàng chục vạn cả. Trong so sánh với địa hạt của Tháo, Dương Kinh Ích Lương không phải không có chiến tranh nhưng quy mô nhỏ hơn, thời gian ngắn hơn, khốc liệt kém hơn, bảo toàn được mật độ dân số của mình. Thậm chí Kinh Ích còn có xu hướng gia tăng nhờ lưu dân. Ví dụ di dân Quan Đông gồm cả sĩ thứ đã tạo thành lực lượng Đông Châu rất hùng mạnh dưới quyền Lưu Yên – Lưu Chương; Lưu Bị thời ở Tân Dã cũng từng chỉnh biên lưu dân để chinh binh. Bản thân Gia Cát Lượng cũng là một dạng lưu dân, ông ta quê ở Lang Nha thuộc Từ châu đến Kinh châu từ trước. Em sẽ đề cập kỹ hơn sau này, ở đây chỉ nhắc tới để chứng tỏ xu thế di dân tới Kinh – Ích bắt đầu khá sớm và vẫn luôn tiếp diễn cho đến thời điểm 205 – 206. Như thế, ưu thế dân số của Quan Đông so với thiên hạ chưa thể chứng minh tường tận.

Qua lại Filux đã lâu, em thường được nghe rằng lão Tào lập đồn điền, qua đó thúc đẩy sản xuất, ổn định dân sinh, chấn hưng kinh tế, vì thế khu vực Quan Đông có tiềm lực hơn hẳn các nơi khác. Điều này khá giống với lập luận của bác nhưng em không hoàn toàn đồng ý. Đồn điển là một chế độ quân sự, ít nhiều mang tính cưỡng bức. Mục đích trung tâm của nó là đảm bảo binh lực và quân lương, giúp chính quyền tiến hành các hoạt động quân sự mà không cần phụ thuộc quá nhiều vào việc trưng binh thu thuế của dân. Một khi đồn điền được thành lập thì cũng là chỉ dấu gián tiếp cho thấy đất đai bỏ hoang, hộ khẩu sụt giảm, kinh tế lụn bại, phương pháp trưng thu thông thường không phục vụ nổi nhu cầu chiến tranh. Cho rằng đồn điền ổn định dân sinh theo em không đủ cơ sở, em chưa đọc bất cứ ghi chép nào cho thấy sau khi lập đồn điền chính quyền ngừng (hoặc giảm) thu thuế trưng binh cả. Tương tự mập mờ là quan điểm đồn điền giúp chấn hưng kinh tế, chả thể chế nào lấy trại lính làm chủ đạo lại có thể phát triển lành mạnh, kinh tế thịnh vượng được.

Lâu dài mà nói, dùng đồn điền cung cấp quân lương cũng không hẳn thập toàn thập mỹ. Khác với nông hộ chịu thu thuế trưng binh theo tỷ lệ có khả năng tái phục hồi sức sản xuất hơn hẳn, quân hộ toàn gia là lính, thời bình cày ruộng thời chiến tòng quân, trẻ khỏe đánh trận già yếu vận lương. Đánh trận thì không tránh khỏi thương vong, thương vong thì giảm nhân lực sản xuất, dần dần dẫn đến hiệu quả canh tác sau chiến tranh ngày một xuống thấp, cuối cùng không những không tạo được thặng dư dự trữ mà còn trở thành gánh nặng, thành nguồn cơn bất ổn cho xã hội. Chính vì vậy chúng ta thường gặp những lời ca ngợi đồn điền vào thời chiến chứ đến thời bình thì không mấy ai đề cập đến thành quả của nó cả. Đặt cạnh đồn điền, phương pháp diệt trừ tông soái, qua đó gián tiếp ngăn cản quá trình kiêm tính thổ địa của Lưu Biểu hoặc chỉnh biên lưu dân để tăng sức sản xuất ở địa phương của Lưu Bị cũng không hơn kém bao nhiêu cả.

Ngoài ra, thời điểm ấy bình nguyên Hoa Bắc đã chớm bước vào thời kỳ Tiểu băng hà, khí hậu mỗi ngày một lạnh khiến hiệu quả canh tác ở miền bắc không thể so sánh với miền nam ấm áp. Nếu tính cả gánh nặng do dân du mục tràn xuống khu vực U, Tinh thì ưu thế kinh tế của Hoa Bắc so với Hoa Nam không còn rõ rệt nữa.

Ôi! Tổ sư mỏi tay quá! Bác cho em bàn gộp mấy cái nhân tâm, nhân tài, đại thế vào nhau cho nó nhanh bác nhá! Như trên em đã thưa, tiền kỳ Tam Quốc luôn tồn tại dòng di dân bao gồm cả sĩ thứ hướng đến Kinh, Ích. Hai vùng này thời chưa có minh chủ vẫn là điểm đến của Ngô Ý, Ngô Ban người Trần Lưu thuộc Duyện châu; Mạnh Quang người Hà Nam; Pháp Chính, Mạnh Đạt người Quan Trung; Tư Mã Huy, Thạch Thao và Từ Thứ người Dĩnh Xuyên, Mạnh Kiến người Nhữ Nam đều thuộc Dự châu, Gia Cát Lượng người Lang Nha thuộc Từ châu, vân vân và mây mây chưa kể bộ sậu Lưu Bị. Riêng Dương châu do nhiều điều kiện đặc thù lại càng thu hút văn thần võ tướng: Trương Chiêu và Nghiêm Tuấn người Bành Thành, Bộ Chất người Hoài Âm, Trương Hoành người Quảng Lăng, Thái Sử Từ người Đông Lai, Trình Bỉnh và Lã Mông người Nhữ Nam, Tiết Tống người Bái quốc, Lỗ Túc người Lâm Hoài, Trình Phổ người Hữu Bắc Bình, Hàn Đương người Liêu Tây, Phan Chương người Đông Quận, Lạc Thống người Trần quốc… Mỏi tay quá gõ mãi éo hết. Vì thế, một mặt em nhất trí với bác rằng lão Tào có lợi thế nhân tài nhờ chiếm lĩnh cương thổ rộng hơn; mặt khác, em cũng bao lưu quan điểm Dương – Kinh – Ích thu hút được khá nhiều nhân tài từ địa bàn của Tháo, trong khi theo chiều ngược lại thì lưa thưa không có mấy. Ít nhất là em chưa được biết, có thể do kiến văn của em nông cạn lại bị hạn chế bởi thiên kiến hoặc các lý do khác (Ví dụ lão Tào nhiều nhân tài quá dùng không hết nên nhân tài đến từ Kinh, Dương, Ích trước thời điểm 205 – 206 không có cơ hội thể hiện chẳng hạn). Nếu bác biết ví dụ nào cụ thể, mời bác chỉ vẽ cho em.

Những người kể trên tài năng cao thấp khác biệt nhưng có điểm chung là đều xuất thân trung tiểu thế gia hoặc bình dân chứ thế gia đại tộc thì không có. Theo em nghĩ thế gia đại tộc có thổ địa sản nghiệp, có quan hệ ràng buộc, có thủ đoạn tiến lui nên ít khi sa cơ đến mức thiếu đói hay chịu họa diệt tộc để phải cử gia di cư. Đấy là điểm mâu thuẫn mấu chốt của họ với lão Tào. Lý niệm trị chính dùng đồn điền để chủ động quân lương, ''duy tài thị dụng'' để xây dựng hệ thống quan lại, tiệm cận với quân chủ tập quyền, không chỉ gạt bỏ quyền lợi tham chính của thế tộc trên diện rộng mà còn có khoảng cách khá xa với lý tưởng nặng tướng quyền nhẹ quân quyền của giới sĩ phu Đảng nhân. Có lẽ vì thế mà Tuân Úc, Tuân Du, Mao Giới, Thôi Diễm ban đầu hợp tác với lão Tào mà về sau không được thọ chung. Điều này thực ra ảnh hưởng không lớn, trong xã hội, người có thể xả thân thủ nghĩa, tuyệt vô phản cố vì lý tưởng dù sao cũng là số ít và thường họ chỉ hành động một mình. Đa số còn lại chỉ lý tưởng khi chưa bị quyền lợi (của mình hoặc của cả gia tộc) níu kéo. Vì vậy, bàn về lòng người, về nhân tâm sở hướng chằng bằng bàn về quyền lợi.

Như trên đã nói, lý niệm của lão Tào về cơ bản trái với quyền lợi của thế tộc. Trong so sánh với Tôn Lưu thì Tôn cho phép tướng lĩnh có tư binh bộ khúc (và tất nhiên là sản nghiệp riêng để nuôi quân), Lưu cho phép cường hào đất Thục giữ nguyên thổ địa của mình bác nhé. Không thực hiện lý niệm ấy lão Tào không thể bình định thiên hạ và bảo vệ bản thân. Nhưng xu thế phát triển của thế tộc là không thể đảo ngược. Thời ấy năng lực sản xuất chỉ có vậy, bình dân có đủ cơm áo là may, không có điều kiển để phổ biến trí thức trên diện rộng, dân không chỉ không biết chữ mà còn không có cả năng lực nhận biết đúng sai. Bất kẻ bản thân người dân hay quân chủ làm vua thiên hạ đều cần một tầng lớp trí thức để dẫn đạo xã hội. Hệ quả tất yếu là tầng lớp ấy luôn được hưởng đặc quyền. Điều này không phải một thiên tài quân sự với mấy chục năm chiến loạn thay đổi nổi. Cái lão Tào làm được chỉ là kìm hãm mâu thuẫn.

Em vẫn tự hỏi: Lão Tào công nghiệp đến thế, từng giết cả vợ con Hiến đế không kiêng nể gì, tại sao không thay triều đổi đại? Tại sao tận mắt thấy bi kịch của Viên Thiệu và Lưu Biểu mà lão Tào vẫn do dự rất lâu giữa Phi và Thực? Tại sao Phi kém Tháo xa mà chỉ sau độ nửa năm đã được quần thần dâng biểu các kiểu con đà điểu khuyên thụ thiện? Tại sao Thực từng đem chuyện anh em họ Viên ra ngăn cản Tào Chương để thành toàn cho Phi mà lại rơi lệ khóc khi Phi xưng đế?

Kịch bản có khi nào là thế này không: Lão Tào nhờ thiên tài quân sự chỉ trấn áp được thế gia chứ không khiến họ đồng lòng đồng chí. Thế gia gắn kết với Tào chủ yếu để bảo vệ bản thân chứ không thực lòng ủng hộ. Vì thế Tào Tháo không lên ngôi được. Phi bản lĩnh chính trị cao hơn nhưng Thực lại có lý niệm trị chính gần với lão Tào hơn. Lão Tào cố đào tạo Thực nhưng gỗ mục khó điêu nên cuối cùng phải chọn Phi để bảo vệ gia tộc. Phi cũng biết mình kém cha nên chọn thỏa hiệp với thế gia thông qua Cửu phẩm trung chính chế. Thực hiểu tình thế nên ngăn Chương huynh đệ tương tàn nhưng tiếc sự nghiệp và lý niệm của cha nên nghe tin Phi phản bội đầu hàng thì khóc.

Nếu kịch bản trên đúng một vài điều thì đại thế cả đời của lão Tào là chiến chiến căng căng như dẫm trên băng mỏng. Cả đời, bao gồm cả giai đoạn 205 – 206 bác ạ.

PS: Hôm qua biêng, chẳng dám làm việc đàng hoàng, ngồi gõ loạn lên chẳng đâu vào đâu, xóa đi thì tiếc, gửi đại lên đây, câu chữ lôm côm, các cụ đọc xong rồi cười bỏ qua nhé!




Nguồn

Xem thêm các bài viết về Tam Quốc Diễn Nghĩa tại: https://em8.vn/binh-tam-quoc

Xem thêm
Bích Phượng

Bích Phượng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *